09:31 ICT Thứ hai, 21/08/2017

Nghị quyết TW khoá XI






Nội dung theo chủ đề








Trang chủ Tin Tức Tin tức sự kiện Đảng, đoàn thể

Những thành tựu lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam qua 85 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam (3/2/1930-3/2/2015)

Thứ năm - 12/02/2015 16:42
Ngày 28/01/2015, tại Hội thảo khoa học Kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2015), GS,TS Tạ Ngọc Tấn, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện đã có bài phát biểu quan trọng. Trang thông tin điện tử Học viện trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu.
Tám mươi lăm năm qua, kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử và thời đại: Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, thành lập Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; thắng lợi của hai cuộc chiến tranh giải phóng kéo dài suốt ba mươi năm; thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc của Tổ quốc; thắng lợi của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Hiện thực lịch sử cho thấy, cội nguồn mọi thắng lợi trong suốt tiến trình Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đều bắt nguồn từ thành tựu nhận thức lý luận, từ năng lực vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết cách mạng và khoa học chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn đất nước.

1. Những thành tựu phát triển lý luận của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

- Xác lập luận điểm cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội - nguồn gốc mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.  

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đất nước Việt Nam chìm trong đêm đen nô lệ, lầm than. Các phong trào đấu tranh yêu nước đều lần lượt bị thất bại. Nguyên nhân sâu xa của những bất lực và bất thành của phong trào dân tộc trước khi Đảng thành lập là thiếu một hệ lý luận tiến tiến và cách mạng, cho phép luận giải chính xác thực tiễn, xác lập và thực thi có hiệu quả con đường cứu nước, giải phóng dân tộc đúng đắn và triệt để.

Trên hành trình tìm kiếm con đường cứu nước, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lênin và hình thành tư tưởng cứu nước mang hơi thở của thời đại mới: Chủ nghĩa xã hội hoàn toàn có thể thích ứng với các dân tộc phương Đông; muốn giải quyết nhiệm vụ dân tộc một cách “đến nơi”, nhân dân được sống tự do, ấm no, hạnh phúc, nhất thiết phải đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, phải thực hiện cuộc cách mạng vô sản, “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”[1] .

Dòng mạch tư duy đó của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã phát triển đến đỉnh cao và được hiện thực hóa, trở thành đường lối chiến lược do  Đảng Cộng sản Việt Nam xác lập ngay khi ra đời vào ngày 3-2-1930. Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng thông đã qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên mà tư tưởng cốt lõi là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội: “làm tư sản dân quyền cách mạng và và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[2]. Từ đây, cách mạng Việt Nam phát triển theo một định hướng duy nhất đúng: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; hàm chứa 3 chức năng mang tính thời đại của cách mạng vô sản ở một nước thuộc địa là: Giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp - giải phóng xã hội và giải phóng con người.

 Lựa chọn đường lối cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một thành tựu to lớn về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng, hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản tiến lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới; xuất phát từ điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa và nguyện vọng độc lập, tự do cháy bỏng của nhân dân. Nhận thức và hành động theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, cùng với việc xác lập một hệ luận điểm giải quyết một cách đúng đắn, hài hòa và sáng tạo mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng tháng Tám - 1945, tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống “hai đế quốc to”, đứng vào hàng ngũ tiền phong của các dân tộc thuộc địa vùng lên đấu tranh phá bỏ nô dịch dân tộc, xây dựng nền độc lập bền vững gắn kết chặt chẽ với tự do, dân chủ và hạnh phúc của nhân dân, với bình đẳng và tiến bộ xã hội.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt, vừa là mục tiêu, là động lực, vừa là nhu cầu và là nguồn gốc mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nguyên lý độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội tiếp tục là định hướng lý luận cơ bản, một trong những nhân tố hàng đầu bảo đảm cho những thắng lợi của sự nghiệp đổi mới trong những năm vừa qua và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.

- Phát triển lý luận chiến tranh nhân dânViệt Nam độc đáo.

Trong lịch sử các cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn phải đối diện với kẻ thù có thực lực quốc gia và tiềm lực quân sự vượt trội. Bài toán chiến tranh cứu nước và giữ nước luôn phải đặt trong hoàn cảnh phải “lấy nhỏ thắng lớn”, ‘lấy yếu đánh mạnh”, “lấy ít địch nhiều”. Con đường duy nhất để thực hiện điều đó là lực lượng lãnh đạo phải tìm sức mạnh trong nhân dân dựa trên nền tảng truyền thống cố kết cộng đồng dân tộc.

Thấm nhuần những nguyên lý về chiến tranh và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa những tinh túy của “chiến tranh toàn dân” cứu nước và giữ nước trong lịch sử dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng và không ngừng phát triển hệ thống lý luận đạt tầm một học thuyết chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

 Lý luận về chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại mới bao hàm   mối quan hệ hữu cơ giữa tính chất “của dân”, “do dân” và “vì dân” với điểm tựa là chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp trong một mặt trận dân tộc thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Chiến tranh nhân dân không chỉ là giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lược, mà đồng thời giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi xiềng xích áp bức, bóc lột; không chỉ giành và giữ vững độc lập dân tộc mà còn  trực tiếp mang lại và bảo vệ những lợi ích căn bản, lâu dài cho mọi tầng lớp nhân dân. Đây là điểm khác biệt giữa chiến tranh nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo với chiến tranh toàn dân truyền thống trong lịch sử, là một thành tựu phát triển lý luận của Đảng về chiến tranh cứu nước và giữ nước.

Bắt đầu hình thành trong kháng chiến chống Pháp và phát triển hoàn chỉnh, đạt đến trình độ cao thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, hệ thống lý luận của chiến tranh nhân dân Việt Nam bao gồm những luận điểm, những kinh nghiệm vô giá. Đó là, động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang làm nòng cốt; đấu tranh toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá,  khoa học và kỹ thuật...; phát huy tinh thần tự lực, tự cường, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ quốc tế; coi tư tưởng tiến công là quy luật giành chiến thắng; quán triệt tinh thần chiến tranh trường kỳ, giành thắng lợi từng bước; đánh giá đúng kẻ thù, chủ động kế sách đánh giặc với mọi hình thức và mọi thứ vũ khí, chủ động mở đầu và kết thúc chiến tranh… Những luận điểm trên được đúc kết từ thực tiễn, trở thành nguồn sức mạnh vô địch đưa hai cuộc kháng chiến của nhân ta đi đến thành công.  

Lý luận chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là di sản vô giá, là lợi khí sắc bén không chỉ đối với nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện tại và tương lai mà còn là cống hiến quan trọng làm phong phú học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin, có tác động sâu sắc và lâu dài đối với nghệ thuật chiến tranh trên phạm vi thế giới.

 -  Phát triển lý luận về xây dựng lực lượng cách mạng và chiến lược đại đoàn kết toàn dân.

Đoàn kết, tập hợp lực lượng là vấn đề sống còn đối với mọi cuộc cách mạng. V.I. Lênin viết: “Chỉ có độc một mình đội quân tiên phong thôi thì không thể thắng nổi (...) đó không chỉ là một điều dại dột, mà còn là một tội ác nữa”[3].   

Quán triệt nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, thấu hiểu những đặc trưng văn hóa Việt Nam luôn đặt lòng yêu nước và tinh thần cố kết cộng đồng lên nấc thang giá trị cao nhất, kế thừa truyền thống “đồng bào”, “cả nước đánh giặc” của dân tộc, ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác lập những luận điểm xây dựng lực lượng, đề ra chiến lược đại đoàn kết các lực lượng của toàn dân tộc rất đúng đắn và sáng tạo.

 Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên, năm 1930, Đảng đã xác định, lực lượng cách mạng là khối đại đoàn kết toàn thể dân tộc tập hợp trong hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất dựa trên nguyên tắc và lập trường của giai cấp công nhân, lấy liên minh công nông và trí thức làm nền tảng do Đảng lãnh đạo. Những luận điểm trên của Đảng mang tính cách mạng và khoa học, vừa vượt lên những hạn chế, quan điểm cứng nhắc về giai cấp đang phổ biến trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vừa khắc phục triệt để việc tập hợp mang tính ngẫu nhiên, lỏng lẻo, tự phát nhất thời của nhiều tổ chức yêu nước trước khi giai cấp công nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị. Tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc theo nguyên tắc trên không chỉ là chủ trương của Đảng, mà còn là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng do quần chúng tiến hành, là nhu cầu của tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội mưu cầu độc lập, tự do cho xứ sở, tiến lên xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, do đó, mang tính xuyên suốt, vững bền và lâu dài.

Cùng với chiến lược đại đoàn kết dân tộc, Đảng đề cao đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự hỗ trợ, sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân các nước, các lực lượng yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới, coi đây cũng là một bộ phận quan trọng cấu thành lực lượng cách mạng.

Trên cơ sở lý luận về đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam còn xác lập và không ngừng bổ sung những luận điểm về phương thức xây dựng lực lượng, về nghệ thuật vận động và tập hợp nhân dân, tổ chức hình thức Mặt trận, về đoàn kết quốc tế... Hệ quả là, sức mạnh “đồng tâm, hiệp lực” của toàn thể dân tộc được nhân lên ở cấp độ cao nhất, mang đậm tinh thần chủ động, tự lực, tự cường, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân Việt Nam.

Xây dựng lực lượng gắn với đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất là tổng thể hữu cơ cấu thành đường lối cách mạng, là sáng tạo lý luận có giá trị lâu bền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Xác lập phương pháp cách mạng sáng tạo, đúng đắn và hiệu quả.

Phương pháp cách mạng là một bộ phận hợp thành đường lối của một đảng cách mạng. Khi mục tiêu, phương hướng chiến lược đã được xác định, thì năng lực xác lập phương pháp tiến hành có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của phong trào cách mạng. Điểm mấu chốt của phương pháp chính là sức sáng tạo.

Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trên cơ sở mục tiêu chiến lược được xác định, căn cứ vào đặc điểm đất nước, vào đối tượng đấu tranh, quán triệt phương pháp luận biện chứng, quan điểm cách mạng bạo lực của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hình thành những luận điểm về phương pháp cách mạng đúng đắn và mang lại hiệu quả cao. Luận cương chính trị tháng 10-1930 coi trọng vấn đề phương pháp cách mạng, coi võ trang bạo động là một hoạt động cực kỳ hệ trọng, không thể coi thường, khinh suất. Trong những ngày đầu của chế độ dân chủ cộng hòa, thế nước chông chênh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra phương châm hành động “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Từ thực tiễn đấu tranh giành chính quyền và ba mươi năm chiến tranh giải phóng, Đảng khẳng định: “cách mạng là sáng tạo, không sáng tạo thì cách mạng không thể thành công”, “không bao giờ có một công thức duy nhất về cách tiến hành cách mạng”[4].

Nhất quán về nguyên tắc, mềm dẻo, linh hoạt về sách lược, Đảng sáng tạo nhiều phương pháp mẫu mực về xây dựng lực lượng, về hình thức đấu tranh, thiên biến; vạn hóa trong sử dụng bạo lực của quần chúng, trong lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù, biết đánh và biết thắng,... Những thắng lợi to lớn trong thời kỳ cách mạng dân tộc, dân chủ thể hiện rõ những nét đặc sắc về phương pháp tiến hành cách mạng, mang tầm cao trí tuệ của Đảng.              

2. Những thành tựu phát triển lý luận của Đảng về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Định hướng hệ mục tiêu và ngày càng làm sáng rõ và đầy đủ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Xác định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi Đảng phải vận dụng những nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin để định hướng con đường và mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trải qua một quá trình thể nghiệm lâu dài, với nhiều vấp váp và hạn chế, Đảng xác định: Từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên xã hội chủ nghĩa phải trải qua một thời kỳ quá độ với những chặng đường, những bước đi lâu dài. Đặc biệt, việc từ một nước nông nghiệp lạc hậu quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa đặt ra hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn chưa có tiền lệ trên thế giới. Bằng việc nhận thức đúng đắn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm quốc tế, từng bước vận dụng, tổng kết các mô hình thực tiễn, dựa chắc vào sự sáng tạo của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước phát triển một hệ thống lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam với mục tiêu, con đường và những giải pháp tổng thể ngày càng sáng rõ hơn. “Cương lĩnhh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)” đã chỉ rõ 8 đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng là: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”[5]. Nếu nhìn vào những mô hình “chủ nghĩa xã hội” hoặc đã sụp đổ, hoặc đang “lạc nhịp” với sự phát triển chung của thế giới, chúng ta mới thấy hết sức sáng tạo lớn lao của Đảng về mặt lý luận trong xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội mang đặc điểm Việt Nam.

Thành tựu đạt được trong tư duy lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam còn thể hiện ở chỗ Đảng ta đã xác định được hệ mục tiêu của công cuộc đổi mới - những giá trị của chủ nghĩa xã hội Việt Nam, là: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; xác lập được những điều kiệnphương thức bảo đảm thực hiện bằng việc nhận thức và giải quyết 8 mối quan hệ  lớn, chi phối sự thành bại công cuộc đổi mới: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế với đổi mới từng bước về chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ.

- Xác lập được hệ thống lý luận về con đường và những giải pháp cơ bản nhằm hiện thực hóa mô hình chủ nghĩa xã hội.  

Vấn đề đầu tiên đặt ra để hiện thực hóa các mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ những nhận thức đầu tiên về công nghiệp hóa trong thập kỷ 60 thế kỷ XX, đến nay, Đảng đã hình thành một hệ quan điểm về công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa với những mục tiêu, nội dung, mô hình, phương thức và nguồn lực cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa, vừa tuân theo sự phát triển chung của thế giới vừa phù hợp với đặc điểm Việt Nam.  Theo đó, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên môi trường, đổi mới mô hình tăng trưởng, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng miền, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; nhất quán trong việc phát huy và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực phát triển... Những bước phát triển về lý luận trên đây đã phát huy hiệu quả, mang lại những thành tựu trong thực tiễn hiện nay.

Xác lập và phát triển lý luận về  kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình tìm tòi, đầy sáng tạo của Đảng ta. Vận dụng và phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin trên lĩnh vực kinh tế, Đảng ta đã vượt qua những sai lầm, hạn chế của nền kinh tế kế hoạch hóa, quan liêu, bao cấp, xác lập về mặt lý luận mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các quy luật thị trường được tôn trọng, vận dụng đầy đủ, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là chủ thể quản lý và Đảng Cộng sản lãnh đạo đảm bảo thực hiện thành công các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là dân giàu, nước mạnh, nhân dân ấm no, hạnh phúc, con người được sống trong môi trường công bằng, được phát triển tự do, toàn diện. Đây là mô hình phát triển kinh tế chưa có tiền lệ. Từ mô hình tổng quát đó, Đảng đã không ngừng phát triển và làm sáng rõ hơn những nội dung và yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường; định hướng phương châm phát triển là chủ động hướng toàn bộ quá trình phát triển kinh tế thị trường vào việc tạo lập những tiền đề, những điều kiện cần thiết để hiện thực hóa các thành tố của chủ nghĩa xã hội ở nước ta.... Thực tiễn cho thấy, xác lập mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy vẫn cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện, nhưng kết quả đạt được là một bước tiến lớn về mặt tư duy lý luận. Mô hình này ngày càng được khẳng định, phù hợp với xu thế phát triển của kinh tế thế giới và điều kiện Việt Nam.

Định hướng xây dựng, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam. Từ những luận điểm đầu tiên về xây dựng nền văn hóa cách mạng thông qua Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943, qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta có những sáng tạo lớn về mặt lý luận trong việc xác định vai trò to lớn của văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục mục tiêu, vừa là nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển. Đảng xác định rõ hơn các đặc trưng tiêu biểu của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà nhân dân ta xây dựng là dân tộc, nhân văn, dân chủkhoa học, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đảng xác định rõ mối quan hệ khăng khít giữa xây dựng văn hóa với xây dựng con người, phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người, xây dựng con người để thúc đẩy văn hóa phát triển.

Xác lập những cơ sở lý luận trên lĩnh vực giải quyết các vấn đề xã hội. Giải quyết vấn đề xã hội vừa thể hiện tính ưu việt của chế độ, vừa là yêu cầu của phát triển bền vững. Căn cứ vào tình hình thực tiễn và thực lực của đất nước, Đảng đã xác định một cách bao quát, đầy đủ hơn về tầm quan trọng, mục tiêu và nội dung của việc giải quyết các vấn đề xã hội; hình thành một hệ thống luận cứ khoa học và nhận thức lý luận về việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, trong đó, các mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội phải bảo đảm tính đồng bộ, công bằng và bình đẳng cho mọi người dân, mọi vùng miền. Đảng cũng xác định về mặt lý luận định hướng xây dựng cộng đồng xã hội văn minh, nhận thức đầy đủ và xác đáng hơn về những giá trị tích cực của văn hóa và đạo đức tôn giáo đối với công cuộc xây dựng đất nước.

Xây dựng và phát triển lý luận về quốc phòng, an ninh và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Đảng xác lập những quan điểm lý luận về mối quan hệ biện chứng, khăng khít giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Theo đó, có bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, an ninh chính trị, trật tự xã hội thì mới tạo điều kiện để xây dựng đất nước. Ngược lại, xây dựng đất vững mạnh, kinh tế phát triển thì quốc phòng, an ninh mới được bảo đảm và tăng cường vững chắc. Trên cơ sở đó, Đảng xác định mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình để xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa…; định rõ phương châm chỉ đạo; xác định rõ sức mạnh, lực lượng và phương thức bảo vệ Tổ quốc; chuyển đổi tư duy “bạn- thù’ thành tư duy đối tác, đối tượng trên cơ sở lợi ích quốc gia, dân tộc… Đặc biệt, là đã nhận thức sâu sắc hơn về vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang, với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Xây và phát triển cơ sở lý luận về đường lối và chính sách đối ngoại.  Thấm nhuần quan điểm quốc tế vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa tinh thần tự tôn và tự hào dân tộc, truyền thống yêu chuộng hòa bình, hòa hiếu trong cốt cách người Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng, phát triển đất nước, Đảng luôn xác định mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại phải lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm tối thượng; từ thực hiện phương châm “thêm bạn, bớt thù”, “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” đến đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đối ngoại; từ “muốn làm bạn” đến “sẵn sàng làm bạn”, “là bạn, là đối tác tin cậy”, là “thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”, từ quan niệm “địch, ta” sang cách nhìn nhận có tính biện chứng về “đối tác”, “đối tượng” trên cơ sở lợi ích quốc gia, dân tộc thích ứng với từng giai đoạn lịch sử.  Đó còn là thành tựu về việc xác lập tư duy lý luận về chiến lược để xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Xây dựng những cơ sở lý luận về phát huy dân chủ, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nước ta. Thực hành và phát huy dân chủ, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có thực quyền và hiệu quả là những vấn đề trọng yếu, phải được tiến hành từ tầm cao và chiều sâu của nhận thức lý luận. Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, từ đòi hỏi của công cuộc đổi mới, những cơ sở lý luận về phát huy dân chủ xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam đã được Đảng xác lập và đưa vào thực thi. Theo đó, bản chất và đặc điểm của dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vừa hàm chứa những giá trị phổ quát về dân chủ của nhân loại, vừa mang những giá trị đặc trưng, phản ánh tính chất, đặc điểm văn hóa và truyền thống dân tộc. Nội dung cốt lõi của nền dân chủ này là tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của nhân dân, gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân”, dân chủ phải đi liền với kỷ cương, sống và hoạt động theo hiến pháp và pháp luật.

Phát triển lý luận xây dựng Đảng trong điều kiện mới. Tuân thủ những nguyên lý xây dựng chính Đảng vô sản kiểu mới theo chủ nghĩa Mác - Lênin, căn cứ vào đặc điểm Việt Nam, Đảng ta ngày càng có những phát triển và sáng tạo trong nhận thức lý luận về xây dựng Đảng, trong đó, mấu chốt là vấn đề bản chất của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”. Đảng cũng xác định rõ ràng, đầy đủ hơn về nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; xác định rõ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng, vị trí, nội dung, nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế...

Những thành tựu trong nhận thức lý luận về Đảng cầm quyền và xây dựng Đảng đã tiếp thêm sức mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước. Mặt khác, chính thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước trong điều kiện hiện nay cũng đang đặt ra những yêu cầu cấp bách về việc tiếp tục tổng kết, phát triển, hoàn thiện những vấn đề lý luận về tổ chức, hoạt động của Đảng, về giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, về mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Mặt trận Tổ quốc và vấn đề thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong điều kiện xã hội đang có những vận động phức tạp và điều kiện kinh tế -  xã hội đang biến đổi nhanh chóng.

*

*            *

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chỉ rõ vai trò lý luận đối với Đảng cách mạng: Đảng không có lý luận thì giống như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam; Đảng muốn vững thì phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm cốt, vì đó là chủ nghĩa cách mạng nhất, chân chính nhất, trong Đảng ai cũng phải hiểu và theo lý luận ấy. Những thành tựu to lớn về lý luận trong 85 năm qua chính là sự tuân thủ và hiện thực hóa một cách sáng tạo những giáo huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những thành tựu đã đạt được, thực tế công cuộc đổi mới cũng như những định hướng phát triển lâu dài của đất nước đã và đang tạo động lực, thúc giục chúng ta đẩy mạnh đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lý luận, luận giải thấu đáo những vấn đề lớn phải giải quyết trong quá trình phát triển đất nước; góp phần dự báo và đề xuất các căn cứ khoa học vững chắc để điều chỉnh, hoàn thiện chiến lược, sách lược, giải quyết đúng và trúng, thiết thực và hiệu quả các yếu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb. CTQG, H. 2011, tr.563.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb.CTQG, H.2002, tr. 2

[3] Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, M. 1977, tập 41,  tr. 97

[4]. Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành thắng lợi mới, Nxb. Sự thật, H. 1975, tr. 32.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 70

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tài liệu BDCBCC

Tải nội dung 

Tải nội dung









Mẫu viết tiểu luận TN TC LLCT-HC

Tra cứu văn bản Luật




Hệ thống tra cứu TT đề tài NCKH

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 17


Hôm nayHôm nay : 509

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 31043

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2374820

Thông tin

  Trang thông tin điện tử trường Chính trị tỉnh Bình Phước
  Trưởng Ban Biên tập website: Nguyễn Văn Hậu - Hiệu trưởng
  Địa chỉ: Đường Trường Chinh - phường Tân Phú - TX.Đồng Xoài - tỉnh Bình Phước
  Điện thoại: 0651.3883.238 Fax: 0651.3883.238
  Email: vanphong@truongchinhtri.edu.vn
 Tải khóa công khai GPG PublicKey(Tại đây)
Sử dụng mã nguồn NVx.x  
Quản trị web: Cù Trọng Tuấn  
Thiết kế bởi: VinaTec Co., Ltd